Trường Đại học Tây Nguyên

Trường Đại học Tây Nguyên

Đại học Tây Nguyên

Đại học Tây Nguyên

1. Lịch sử  Trường  Đại học Tây Nguyên

Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975 và thống nhất đất nước, sự ra đời  của trường Đại học Tây Nguyên là một tất yếu lịch sử phù hợp thống nhất giữa chủ trương của Đảng và Nhà nước ta với nguyện vọng thiết tha của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Qua ba mươi năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường ngày càng lớn mạnh, đã kiên trì phấn đấu để hoàn thành sứ mạng lâu dài, thực sự trở thành một Đại học vùng không những đủ sức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao mà còn là một trung tâm văn hoá, khoa học công nghệ của các tỉnh Tây Nguyên và vùng núi miền Nam Trung Bộ, ngang tầm với các trường đại học khác. Những bước phát triển của trường đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm gắn liền với sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo cùng với sự phát triển kinh tế- văn hoá – xã hội của nước ta.

Giai đoạn đầu của trường (1977-1986) với đội ngũ cán bộ được điều động từ các trường đại học ở miền Bắc và quân đội, lực lượng cán bộ trẻ  tốt nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau mới được tuyển dụng cùng chung sức xây dựng một trường đại học mới trong hoàn cảnh vừa dạy, vừa học, vừa làm; đồng thời phải góp sức cùng nhân dân địa phương bảo vệ biên giới chống ngoại xâm, chống bọn phản động FULRO, tham gia lao động sản xuất tự túc lương thực. Nhờ có sự quan tâm đầu tư về nhân lực và cơ sở vật chất của các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương, trường đã xây dựng được cơ sở vật chất ban đầu với hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm…đảm bảo điều kiện dạy và học cho 6 chuyên ngành của  4 khoa. Đến giữa năm 1982, Bộ quyết định chuyển khoa Sư phạm sang trường Đại học Đà Lạt, trường chỉ còn có 3 khoa (Y, Nông nghiệp và Lâm nghiệp) thì việc sắp xếp lại cơ cấu nhân sự cùng với việc định hướng lại mục tiêu đưa nhà trường vào một giai đoạn có nhiều biến động liên quan đến sự tồn tại và phát triển. Thành tích nổi bật của thời kỳ này là đào tạo ra một thế hệ mới các bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo của Tây Nguyên; nhiều cựu sinh viên hiện đã trở thành các phó giáo sư tiến sỹ hoặc đang nắm giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp tỉnh đến các cơ sở y tế, trường học, doanh nghiệp sản xuất ..ở các địa phương.

Giai đoạn 1987-2001 là thời kỳ nhà trường phải vượt qua nhiều thử thách để tồn tại và phát triển với đặc điểm nổi bật là các hiệu trưởng của 3 nhiệm kỳ này là cán bộ quản lý cấp trung ương, viện trưởng, hiệu trưởng trường đại học khác được Bộ bổ nhiệm biệt phái.

Trong những năm 1987-1992, trường chỉ còn đào tạo 4 ngành y, trồng trọt, lâm sinh và chăn nuôi- thú y. Để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ và sinh viên, trường đã mở thêm hệ đào tạo hợp đồng và động viên cán bộ nhân viên tăng gia sản xuất tự cải thiện đời sống vật chất; đồng thời tăng cường xin các chỉ tiêu ưu tiên cho cán bộ đi học tập bồi dưỡng ở nước ngoài và một số trường đại học đầu đàn. Các thành tựu quan trọng trong giai đoạn này là đã chuẩn bị được một đội ngũ cán bộ nòng cốt, nhất là các cán bộ người dân tộc địa phương, có đủ trình độ giảng dạy đại học và yên tâm công tác, tạo đà cho sự phát triển tiếp theo. Một số đề tài khoa học ứng dụng thuộc các chuyên ngành đào tạo của trường đã góp phần thiết thực trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở Tây Nguyên. Tiếp cận với những bước đầu đổi mới giáo dục đại học trong nước, các trung tâm tin học và ngoại ngữ được thành lập kịp thời đáp ứng nhu cầu xã hội.

Kiên trì thực hiện mục tiêu xây dựng trường từng bước phát triển lớn mạnh toàn diện, thời kỳ 1993-1997 đã có nhiều biến động theo hướng mở rộng cơ cấu ngành và hệ đào tạo. Khoa Sư phạm tái thành lập; tách ngành kinh tế nông lâm từ khoa Nông lâm thành khoa mới; đổi tên khoa Y thành khoa Y Dược; thành lập khoa Dự bị đại học…với 10 ngành đào tạo và mở thêm hệ đào tạo tại chức cho 3 ngành nông lâm; hệ đào tạo bác sĩ đa khoa 4 năm. Trường đã liên kết với một số trường đại học khác đào tạo tại chỗ một số ngành đại học và sau đại học, tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy đáp ứng yêu cầu chuyển đổi môn dạy và nâng cao trình độ chuyên môn. Trường đã có các chủ trương thích hợp khuyến khích cán bộ vừa đảm bảo công tác chuyên môn vừa đi học cao học hoặc làm nghiên cứu sinh gắn liền với các đề tài nghiên cứu khoa học thiết thực với nhu cầu cần thiết ở Tây Nguyên. Có nhiều dự án về xây dựng phát triển nhà trường, về liên kết hợp tác với nước ngoài…đã được soạn thảo và sửa đổi nhưng không đủ điều kiện thực hiện như mong muốn. Việc đầu tư cho việc dạy và học còn nhiều bất cập về công tác quản lý giáo dục đại học và về cơ sở vật chất, ở một số lĩnh vực còn chưa thực hiện được mục tiêu đặt ra. Những thành tựu nổi bật của trường trong giai đoạn này là đã có được đội ngũ nhiều cán bộ có trình độ sau đại học; một số đề tài khoa học ứng dụng liên kết với các trường và viện đã được thực hiện; một số cán bộ tham gia các dự án với nước ngoài đã đạt được một số kết quả tốt.

Cùng với những chuyển biến lớn về giáo dục đại học của cả nước, trường bước vào thời kỳ 1997-2001 với mục tiêu là kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý, xây dựng lại quy hoạch tổng thể của trường theo hướng đổi mới giáo dục đại học, tập trung ưu tiên vào các nhiệm vụ chính là giảng dạy và học tập gắn liền với nghiên cứu khoa học. Việc triển khai đồng loạt nhiều vấn đề mới ở một trường đa ngành với nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và đội ngũ cán bộ đã quen vận dụng kinh nghiệm quản lý từ các ngành khác nhau, tất yếu phải trải qua nhiều bước khó khăn. Thực tế đã khẳng định sự phát triển của trường phù hợp với hướng đi chung của sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học hiện nay.

Trong giai đoạn này, trường vẫn có 5 khoa nhưng đến năm 2001 có 16 ngành đào tạo và một số lớp cử tuyển, dự bị đại học. Bằng việc mở rộng địa bàn tuyển sinh, trường đã thu hút số người đến Tây Nguyên ngày càng đông; có thể thấy rõ qua tỷ lệ số người dự thi/số sinh viên nhập học năm 1997 là 2780/876 và năm 2001 là 13007/1064. Từ năm 1998, trường đã thực hiện tổ chức thi theo hình thức tập trung từ khâu coi thi đến ra đề và chấm thi, áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong tuyển sinh đại học và trong một số môn thi học kỳ, thi tốt nghiệp, xây dựng ngân hàng đề thi…Trường tiếp tục thực hiện việc ưu tiên cho cán bộ làm nghiên cứu sinh, liên kết với các trường mở các lớp cao học tại chỗ (thêm các ngành Tiếng Anh, Công nghệ thông tin) và đa số cán bộ có các chứng chỉ Giáo dục học đại học và Quản lý Nhà nước về giáo dục. Ưu tiên phát triển nhanh về số lượng trang thiết bị cho các phòng máy vi tính, phòng học ngoại ngữ; nâng cấp thư viện thành trung tâm Thông tin Tư liệu và Thư viện; đầu tư mua sắm các thiết bị hiện đại cho các phòng thí nghiệm trọng điểm; tăng cường số đầu sách giáo trình nội bộ…đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học. Sau hội nghị khoa học của trường lần thứ II (1999), trường đã đăng cai và tổ chức thành công một số hội nghị khoa học chuyên ngành, một số dự án nghiên cứu khoa học hợp tác giữa các trường và với nước ngoài đã hoạt động đúng tiến độ và có hiệu quả cao. Trong công tác xây dựng cơ bản, không những chỉ chú trọng về đầu tư chiều sâu mà về cảnh quan của trường cũng có một diện mạo mới; đến năm 2001 quy hoạch tổng thể xây dựng trường đã được Chính phủ thông qua và trên cơ sở đó Bộ phê duyệt dự án đầu tư giai đoạn I.

Từ năm học 2002-2003, trường bước vào một thời kỳ mới với đặc điểm nổi bật là lần đầu tiên Hiệu trưởng nhà trường là cán bộ trưởng thành từ những năm đầu xây dựng. Những bước phát triển của trường từ năm 2002 đến nay được thể hiện đầy đủ trong báo cáo tự đánh giá này.

2.Địa chỉ liên hệ

Địa chỉ: 67 Lê Duẩn, TP.Buôn Ma Thuột,  tỉnh Đăk Lăk
Điện thoại: (0500)3825185;3853507

3.Cơ sở vật chất

4.Tuyển sinh và đào tạo

A. Bậc đào tạo: Đại học, Cao đẳng, …

B. Khoa, ngành đào tạo:

Khoa Khoa học tự nhiên và công nghệ
Khoa chăn nuôi – thú y
Khoa dự bị và tạo nguồn
Khoa kinh tế
Khoa Mác Lênin
Khoa ngoại ngữ
Khoa nông lâm nghiệp
Khoa sư phạm
Khoa y dược

C. Chỉ tiêu tuyển sinh: năm 2011:  Trường Đại học Tây Nguyên tuyển sinh 2.750 chỉ tiêu Đại học và Cao đẳng

D. Điểm chuẩn Trường  Đại học Tây Nguyên

Điểm chuẩn vào trường năm 2011:

Các ngành đào tạo đại học:

Mã ngành 

Khối thi

Điểm chuẩn  NV1

- Sư phạm Toán

101

A

17
- Sư phạm Vật lí

102

A

14
- Cử nhân Tin học

103

A

13
- Sư phạm Hóa học

104

A

14.5
- Giáo dục Tiểu học

901

A,C

A: 15, C: 17
- Sư phạm Tiếng Anh

701

D1

15
- Sư phạm Sinh học

301

B

15
- Sư phạm Ngữ văn

601

C

14.5
- Giáo dục Thể chất

605

T

19,5
- Giáo dục Tiểu học – Tiếng Jrai

902

C,D1

C: 14, D: 13
- Giáo dục Mầm non

903

M

20
- Kinh tế Nông Lâm

401

A,D1

13
- Quản trị kinh doanh

402

A,D1

A: 13,5; D1: 14
- Kế toán

403

A,D1

A: 15, D: 14
- Quản lí đất đai

404

A

13,5
- Bảo quản và chế biến nông sản

405

A,B

A: 13, B: 14
- Tài chính ngân hàng

406

A,D1

A: 17, D: 16
- Bảo vệ thực vật

302

B

14
- Khoa học cây trồng (Trồng trọt)

303

B

14
- Chăn nuôi Thú y

304

B

14
- Thú y

305

B

14
- Lâm sinh

306

B

14
- Bác sĩ đa khoa

307

B

23.5
- Quản lí tài nguyên rừng và Môi trường

308

B

17
- Điều dưỡng

309

B

18.5
- Sinh học

310

B

14
- Tiếng Anh

702

D1

13
- Giáo dục chính trị

604

C

14
- Ngữ văn

606

C

14
- Triết học

608

C,D1

C: 14, D: 13
- Công nghệ Kĩ thuật điện tử (chuyên ngành Điện tử viễn thông)

501

A

13
- Công nghệ môi trường

502

A

13
Các ngành đào tạo cao đẳng:

 

 

- Quản lí đất đai

C65

A

10
- Quản lí tài nguyên rừng và Môi trường

C66

B

11
- Chăn nuôi Thú y

C67

B 11
- Lâm sinh

C68

B 11
- Khoa học cây trồng (Trồng trọt)

C69

B 11

 

5. Cơ hội việc làm

Tìm trường Trường Đại học , , , , ,

Related Listing

Đặt ý kiến cuả bạn

Đánh giá bằng cách nhấn chuột vào ngôi sao dưới đây:

Gửi cho bạn bè

Captcha Xác minh
captcha image

Gửi yêu cầu

Captcha Xác minh
captcha image